ngày 10/ 09 / 2016. người đăng: admin

NỀN TẢNG VIỆC TẬN HIẾN CHO KHIẾT TÂM MẸ MARIA

1. Theo Công Đồng Vatican II, nhờ hồng ân Thiên Chúa, Đức Trinh Nữ Maria được tôn vinh sau Chúa Con, vượt trên hết các thiên thần và loài người, vì Ngài là Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và đã tham dự vào các mầu nhiệm của Chúa Kitô; do đó Ngài được Giáo Hội tôn vinh và đặc biệt sùng kính (x. ASMD 66). Như vậy nền tảng việc sùng kính Mẹ Maria là do việc Mẹ là Mẹ Thiên Chúa gắn liền với các mầu nhiệm cứu rỗi của Chúa Kitô. Điều này cho chúng ta thấy rõ: Nền tảng việc tôn sùng hoàn hảo đối với Mẹ Maria trước hết và chính yếu là đặc ân Mẹ Thiên Chúa, thứ đến là các đặc ân Mẹ Vô Nhiễm, Mẹ Đồng Công cứu chuộc, Mẹ Giáo Hội, Mẹ Trung gian phân phát các ơn Chúa và Nữ Vương các tâm hồn.

2. Mẹ Thiên Chúa:

a/ Mẹ là Mẹ thật của Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể.

Mẹ chỉ sinh ra Chúa Giêsu về nhân tính, không sinh ra thiên tính của Ngôi Hai, nhưng cả hai bản tính kết hợp đặc biệt với nhau trong một ngôi vị là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Mẹ được gọi là Mẹ sinh ra Thiên Chúa. Từ muôn đời, Chúa đã tiền định cho Mẹ làm Mẹ Ngôi Hai Thiên Chúa nhập thể. Nhưng cho đến ngày Tổng thần Gabriel thừa lệnh Thiên Chúa, đến xin Mẹ làm Mẹ Con Thiên Chúa, Đấng Cứu chuộc nhân loại, Mẹ thưa “Xin vâng” (Fiat) và Mẹ mới thật sự trở thành Mẹ Chúa Con. Khi Mẹ đi thăm bà Thánh Elizabeth, thánh nữ được đầy ơn Chúa Thánh Thần cũng đã tuyên xưng Mẹ là Mẹ Thiên Chúa: “Bởi đâu tôi được Mẹ Chúa đến viếng thăm tôi?” (Lc 1,43).

b/ Đặc ân cao cả nhất, nền tảng hết mọi ân phúc của Mẹ.

Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Mẹ Maria đã lãnh nhận sứ mệnh và vinh dự cao cả là làm Mẹ Con Thiên Chúa, do đó làm ái nữ của Chúa Cha và cung thánh của Chúa Thánh Thần. Nhờ lãnh nhận ân sủng vô cùng cao quý này, Mẹ đã vượt trên mọi tạo vật trên trời dưới đất” (x. ASMD 53). Chính đặc ân cao cả này là nền tảng mọi ân phúc và sứ mệnh của Mẹ, như: Vô nhiễm nguyên tội, Trọn đời đồng trinh, Đồng công cứu chuộc, Lên trời cả hồn xác, Trung gian mọi ân sủng v.v..... c/ Tín điều “Mẹ Thiên Chúa”.

Ngay từ buổi sơ khai, Giáo hội vẫn tin và tôn kính đặc biệt phẩm chức Mẹ Thiên Chúa của Mẹ, nhưng mãi đến năm 431, Công Đồng Êphêsô mới tuyên tín Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa. Do đó, trong kinh “Trông Cậy” (kinh cổ thời nhất về Mẹ), nhất là trong kinh “Kính Mừng”, Giáo Hội đã dạy chúng ta tuyên xưng và ca tụng Mẹ là Mẹ Chúa Trời.

3. Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội:

a/ Đặc ân đầu tiên trong đời sống của Mẹ.

Đặc ân Vô Nhiễm nguyên tội làm cho Mẹ, ngay từ lúc đầu thai trong lòng bà Thánh Anna, đã không hề vướng mắc tội tổ tông cũng không hề lây nhiễm hậu quả nào của tội nguyên tổ như mọi người con cháu Adong- Evà.

b/ Mẹ được Đặc ân Vô Nhiễm nhờ công nghiệp Chúa Kitô.

Ngày 8 tháng 12 năm 1854, tại Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, Rôma, Đức Thánh Cha Piô IX đã long trọng tuyên bố: “...Ta xác nhận, tuyên ngôn và định tín rằng: Rất thánh Trinh Nữ Maria từ phút đầu thai đã được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ nguyên tội, do đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân thế. Tín lý này đã được Thiên Chúa mạc khải. Do vậy, tất cả mọi tín hữu phải tin kiên vững”.

c/ Đặc ân Vô Nhiễm làm cho Mẹ được tràn đầy thánh thiện.

Công đồng Vaticanô II nhắc lại lời các Thánh Giáo phụ tuyên xưng: “Mẹ Thiên Chúa là Đấng toàn thánh, không vương nhiễm một tội nào, như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành. Tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới được thụ thai....” (x. ASMD 56).

d/ Đặc ân Vô Nhiễm chuẩn bị Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha Piô XII đã tuyên bố: “.... Để trở nên xứng đáng Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Maria đã được ơn vô nhiễm nguyên tội khi đầu thai. Vô Nhiễm là tước hiệu dịu dàng khởi đầu tất cả mọi vinh quang của Mẹ” (Ngày 6-12-1939).

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quả quyết: “Đặc ân Vô Nhiễm chứng tỏ một cách vô song và tuyệt vời trung tâm xác thực và sứ vụ cứu rỗi đại đồng của Chúa Kitô. Từ phẩm chức Thiên Mẫu xuất phát tất cả mọi ơn phúc đã được ban cho Rất Thánh Trinh Nữ Maria, mà ơn đầu tiên là đặc ân Vô Nhiễm” (ngày 14-12-1982).

4. Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc:

a/ Đồng Công là sứ mệnh đặc biệt của Mẹ Thiên Chúa.

Khi thưa “Xin Vâng” ngày Truyền tin, Mẹ đã trở thành Mẹ Chúa Cứu Thế, đồng thời Mẹ hiểu và sẵn sàng lãnh nhận sứ mệnh “Đồng Công” với Chúa trong việc cứu chuộc của Ngài. Khi sinh Chúa Giêsu được 40 ngày, Mẹ dâng Chúa trong Đền Thờ Giêsusalem. Trong dịp này, Thánh Simêon, được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, đã tuyên bố rõ ràng sứ mệnh Đồng Công của Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà” (Lc 2, 35).

b/ Chúa Giêsu đã làm hai phép lạ chứng tỏ việc Mẹ Đồng Công.

Phép lạ thứ nhất (về ơn thánh): Mẹ đi thăm bà Thánh Elizabeth. Khi Mẹ vừa chào bà chị, Gioan trong lòng bà chị nhảy mừng vì đã được ơn thánh hoá (Lc 1, 44).

Phép lạ thứ hai (về bậc tự nhiên): Trong tiệc cưới tại Cana, nhờ Mẹ can thiệp, Chúa Giêsu đã làm phép lạ đầu tiên trong cuộc đời công khai truyền giáo của Ngài, để tỏ vinh quang Ngài và các môn đệ tin vào Ngài (Ga 2, 1-11).

Hai phép lạ này cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã làm vì có sự cộng tác của Mẹ.

c/ Mẹ thật là Đấng Đồng Công.

Lời Thánh Giáo Hoàng Piô X: “Chúng con cậy vì lời Đức Trinh Nữ Maria đã đồng công chuộc tội cầu bầu, xin Chúa nhận lễ đền tội chúng con thật lòng kính dâng mà tạ Chúa” (Kinh đền tạ Thánh Tâm Chúa Giêsu).

Đức Piô XII thưa với Mẹ: “Mẹ đã đáng gọi là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc loài người vì Mẹ đã thông phần trong việc cứu thế”.

Theo các Thánh Giáo phụ: “Đức Maria đã phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con Ngài. Bởi đó, Thiên Chúa đã để Ngài tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại nhờ lòng tin và sự vâng phục của Ngài. Thực vậy, Thánh Irênêô nói: “Chính Ngài, nhờ vâng phục đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại” (x. ASMD 56).

Công Đồng Vaticanô II quả quyết: “Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi được tỏ rõ khi Đức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết cho đến lúc Chúa Kitô chết” (x. ASMD 57); “Đức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra” (x. ASMD 58); “Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh và cùng chịu đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Đức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế” (x. ASMD 61).

d/ Mẹ tiếp tục việc Đồng Công ở trên trời:

Công đồng Vaticanô II xác nhận: “Sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn tiếp tục liên lỉ cầu bầu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời” (x. ASMD 62).

5. Mẹ Giáo Hội:

a/ Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi nhận làm Mẹ Chúa Giêsu:

Đức Thánh Cha Phaolô VI khẳng định: “Mẹ là Mẹ của Đấng mà giây phút đầu tiên nhập thể trong trinh dạ Mẹ, đã với tư cách là Đầu kết hợp với Nhiệm thể của mình là Giáo Hội. Đức Maria, do đó, với tư cách làm Mẹ Đức Kitô, cũng là Mẹ của tất cả mọi tín hữu và các chủ chăn, nghĩa là Giáo Hội” (Diễn văn ngày 21-11-1964).

b/ Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi đứng dưới chân Thánh giá Chúa Kitô:

Khi Chúa Giêsu hấp hối trên Thánh giá, Chúa đã trối Mẹ làm Mẹ của môn đệ: “Thưa Bà, đây là con Bà...... Đây là Mẹ con” (Ga 19, 26-67). Qua trình thuật này, Đức Phaolô VI dạy rằng: “Đức Maria, Mẹ của Đấng Cứu Thế, được gọi cách hữu lý là Mẹ của tất cả mọi người, Mẹ của các tín hữu, Mẹ của Giáo Hội” (Diễn văn ngày 18-11-1964). Trong Tông huấn “Điềm lạ vĩ đại” (Signum magnum), Đức Phaolô VI nhìn nhận nơi Thánh Gioan, đại diện của toàn thể dòng giống nhân loại được ủy thác làm con của Mẹ Chúa Kitô.

c/ Mẹ là Mẹ Giáo Hội khi ở nhà Tiệc ly, ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống:

Sách Tông đồ Công vụ thuật lại: “Tất cả cùng một tấm lòng chăm chú cầu nguyện với mấy phụ nữ trong đó có Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, và với các anh em của Người” (Cv 1, 14). Theo Đức Phaolô VI, Mẹ Maria có mặt với các môn đệ của Chúa Giêsu ở nhà Tiệc ly vào ngày lễ Ngũ tuần, được coi như và được tôn vinh là Mẹ Giáo Hội. Vì được đầy tràn ơn sủng, Mẹ đã hợp tác với Chúa Thánh Thần sinh ra Giáo hội” (Diễn văn ngày 27-5-1964).

d/ Giáo hội long trọng tuyên xưng Mẹ là Mẹ Giáo hội:

Ngày 21-11-1964, bế mạc khóa ba Công đồng Vaticanô II, Đức Phaolô VI đã công bố Hiến chế tín lý “Ánh sáng muôn dân” (ASMD = Lumen Gentium) mà chương 8 được hiến dâng cho Mẹ Thiên Chúa. Điểm nổi bật của bài diễn văn công bố Hiến chế là việc long trọng tuyên xưng “Đức Maria, Mẹ Giáo Hội”. Đức Thánh Cha nói: “...Chính vì vinh quang Mẹ và vì niềm an ủi của chúng ta mà chúng tôi công bố Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ của Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể dân Thiên Chúa, của các tín hữu cũng như các chủ chăn, tất cả đều gọi Mẹ là người Mẹ rất dấu yêu”.

6. Mẹ là Đấng Trung Gian mọi ơn thánh:

a/ Công Đồng Vaticanô II tuyên ngôn: “Trong Giáo Hội, Đức Nữ Trinh được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng sư, Vị Bảo trợ, Đấng phù hộ và Đấng Trung gian... sự trung gian duy nhất của Đấng Cứu Thế không những không loại bỏ mà còn khuyến khích các thụ sinh cộng tác, trong sự tùy thuộc vào nguồn mạch duy nhất. Vai trò tùy thuộc ấy của Đức Maria, Giáo Hội không ngần ngại tuyên xưng, mà luôn nghiệm thấy, và nhắn nhủ các tín hữu ghi nhớ trong lòng, để nhờ sự nâng đỡ và phù hộ từ mẫu của Ngài, họ gắn bó mật thiết hơn với Đấng Trung Gian và Cứu Thế” (x. ASMD 62).

b/ Đức Piô IX viết: “Nơi nương ẩn vững chắc nhất và nơi bảo đảm không bao giờ hụt hẫng giữa những cơn nguy hiểm: đó là Đấng Trung Gian uy thế nhất của thế giới với Con của Mẹ” (Thông điệp Ineffabilis Deus).

c/ Thánh Bonaventura nói: “Mặt trăng giữa mặt trời và trái đất chiếu xuống trái đất ánh sáng nó nhận được từ mặt trời. Cũng vậy, Mẹ Maria Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người truyền xuống trái đất những ơn phúc của trời cao mà Mẹ nhận được từ Thiên Chúa là mặt trời” (Bài giảng lễ Chúa Giáng sinh).

d/ Thánh Mông-pho quả quyết: “Chúng ta cần phải có một vị trung gian bên cạnh Đấng Trung Gian là Chúa Kitô, chính Mẹ Maria rất thánh là người có khả năng hơn cả để chu toàn nhiệm vụ bác ái này. Chúa Giêsu Kitô đã nhờ Mẹ mà đến với chúng ta, thì cũng phải nhờ Mẹ mà chúng ta có thể đến với Chúa Kitô” (x. LSKĐT 85); “Thiên Chúa đã trao ban cho Mẹ Maria gìn giữ, quản lý và phân phát mọi ân sủng của Người, để mọi ân sủng của người qua tay Mẹ theo như quyền hành Mẹ có được trên các ân sủng đó” (x. Bí mật Mẹ Maria II, 10.)

7. Mẹ là Nữ Vương các tâm hồn:

a/ Mẹ là Nữ Vương vũ trụ:

Công đồng Vaticanô II đã minh định: “Sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (x. ASMD 59)

Đức Piô XII tuyên bố: “Mẹ Maria là Nữ Vương vì là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng Đồng Công cứu chuộc với Chúa Cứu thế, Vua vũ trụ” (x. Thông điệp Ad Coeli Reginam ban hành ngày 11-10-1954). Đức Piô XII cũng thiết lập lễ Mẹ Nữ Vương kính vào ngày 31 tháng 5 hằng năm, nhưng năm 1969, Đức Phaolô VI, trong chiều hướng canh tân phụng vụ, đã đổi sang ngày 22 tháng 8.

b/ Mẹ là Nữ Vương các tâm hồn:

Thánh Mông pho đã viết: “Cũng như vương quốc của Chúa Kitô chủ yếu là ở trong tâm hồn mọi người, như có lời Thánh Kinh: ‘Nước Thiên Chúa ở bên trong anh em’ (Lc 17, 21), cũng vậy, vương quyền của Mẹ Maria chủ yếu là ở trong tâm hồn con người; chính trong các tâm hồn, Mẹ Maria được tôn vinh với Con chí thánh mình, hơn là nơi các tạo vật hữu hình. Cho nên chúng ta có thể cùng với các thánh gọi Mẹ là Nữ Vương các tâm hồn” (x. LSKĐT 38).

Nguồn : Thủ Bản Tận Hiến-Dòng Đồng Công



************************

BÀI VIẾT TỔNG HỢP