07.28.2020

🌺 ĐỨC TIN TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT 🌺

Mỗi ngày chúng ta gặp biết bao nhiêu chuyện. Chuyện mới lạ: có. Chuyện vui: có. Chuyện không mong muốn: có. Chuyện buồn: cũng có. Nhiều người trong chúng ta sẽ cảm thấy cô độc với nỗi buồn chán của riêng mình giữa cuộc sống bộn bề, hối hả và rất hiện đại này. Cảm giác tồi tệ đó chắc rằng ai sống trên thế gian này đều ít nhất vài lần trải qua, cảm giác lạc lõng với thế giới xung quanh, nặng nề và mệt mỏi, sự rã rời trong tâm trí lẫn thể xác khiến ta muốn chui vào chiếc hộp của riêng mình. Vì đâu nên nỗi? Công việc làm ăn bế tắc, thiếu thốn tiền bạc, sức khỏe có vấn đề hay một người khác làm bạn tổn thương… Mọi sự tổn thương đều là một nửa nhưng khi lòng tin mất đi thì ta đã mất hoàn toàn.

Tôi không ngoại lệ và tôi biết rõ nỗi buồn của mình xuất phát từ đâu. Tôi luôn tự nhắc mình: Hãy tìm điểm tốt nơi người khác vì chẳng ai hoàn hảo. Phải chăng nó vừa là ưu điểm vừa là khuyết điểm? Tôi chưa sống đủ nhiều trên đất, chỉ mới có ba mươi lăm năm, còn nhiều điều tôi muốn khám phá nhưng lòng người là thứ tôi sợ nhất. Chúa tạo ra con người thật xinh đẹp như ảnh tượng Ngài và cho con người một khối óc với ý chí tự do, họ quyết định điều lòng mình muốn và đa phần những quyết định ấy đều sai. Tôi cũng là con người. Những quyết định sai kéo theo những hậu quả thật đáng sợ (mức độ nặng nhẹ tùy trường hợp). Những người bạn tốt đem đến niềm tin yêu, những người bạn không tốt sẽ cho ta kinh nghiệm sống sau này.
Gần đây tôi có… nhiều kinh nghiệm. Lòng nhói đau, hụt hẫng, xót xa… như vừa mới ngã một cú giập mặt. Phần xác choáng váng như vậy còn phần hồn thì chán nản, nhụt chí, đôi khi lại lan man về điều xấu.
Những lúc như vậy bạn thường làm gì? Có người xem phim, nghe nhạc, tụ tập bạn bè, nói chuyện với thú cưng… tùy người và tùy tâm trạng. Còn đối với một đứa yêu thiên nhiên với cái nắng, cái gió, cái rộng lớn ngút ngàn của núi rừng, ngập chìm trong không khí mát lành của sương mai, cùng tiếng thác đổ ầm ầm, mùi đất, mùi rơm rạ lẫn vào ngai ngái mũi sẽ khiến tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn. Tôi vác ba lô lên vai, gói ghém chồng, con theo (vì gia tài tôi chỉ có nhiêu đó) và cuốn theo chiều gió…

……..

Chị mang tên một loài hoa rừng trắng muốt, cánh mỏng manh nở bung ra với làn hương thoang thoảng khắp núi đồi, đóa hoa hướng về tia nắng đầu ngày, kiêu sa, lung linh với những hạt sương còn sót, mọng nước, óng ánh trong tiết trời đã vào xuân. Ka Mai là tên của chị, hiện tại chị là hội trưởng của hội phụ nữ vùng sắc tộc, mỗi khi gặp nhau là chị tiến tới ôm siết lấy tôi như ôm đứa con lâu ngày xa gia đình dù chỉ mới vừa hôm qua gặp chị. Thấy tôi không tí tách, liếng thoáng như mọi lần, chị ôm vai hỏi tôi:

- Sao cái mặt như rau rịa sau mưa vầy nè? Nói chị nghe.
- Dạ. Hôm nay trời nhẹ mây bay/ em buồn chẳng hiểu vì sao em buồn.
Tôi cố cười và bông lơn vài câu thơ của ai đó.
Chị đem đồ của chúng tôi vào nhà rồi nắm tay tôi ngồi xuống trước hiên trong khi mấy cha con đi lòng vòng trong khu vườn của chị.
- Có muốn nghe chuyện đời chị không? Ngồi xuống nghe và bỏ bộ mặt đưa đám đó nghe chưa?
Tôi cười méo mó, một tay di di xuống đất. Chị bắt đầu kể, tay vẫn không buông tay tôi.
Chị là người K’ho cưới anh, một người Raglay đi bộ đội về. Chị phải học tiếng Raglay để nói chuyện với anh. Cưới nhau về còn nghèo lắm, anh chị phải lên rừng đào củ mài, củ khoai sót về ăn nhưng khó khăn, thiếu thốn không ảnh hưởng gì đến chất lượng sinh sản. Chị có mười một đứa con, đến khi “ mang thai đứa mười hai” thì chị thấy có vấn đề, chị mang cái bụng nặng nề, cứng ngắc quá mười tháng đến bệnh viện. Sau khi khám và làm các xét nghiệm thì ông bác sĩ người kinh phán cho một câu:

- Ung thư gan giai đoạn cuối, trong vòng ba tháng nữa chết, về nhà lo thu xếp.
Đơn giản có một câu vậy thôi.
KHông hiểu ung thư gan nó là bệnh gì nhưng chết bỏ lại mười một đứa con nheo nhóc thì chị hiểu cảm giác đó. Nỗi sợ hãi bao trùm tất cả. Bụng chị ngày càng lớn, cứng như đeo đá, chị vẫn vác nó đi rẫy được lúc nào hay lúc đó, chị mệt lắm, thở không ra hơi, cũng đau đớn lắm, người chị toàn một màu vàng khè như xát nghệ, chẳng có thuốc chi ngoài đám lá rừng. Mỗi ngày anh chị cứ cầu nguyện với Chúa bằng chính ngôn ngữ của mình, đại ý là: - Chúa ơi! Xin hãy cứu lấy con, mấy đứa con của con còn quá nhỏ, xin cho con sống để nuôi nấng và dạy dỗ chúng nó…
Bệnh chẳng có bớt chút nào. Lời cầu xin vẫn liên tục.

Buổi sáng hôm đó, anh và con bé lớn lên rẫy không mang theo đồ ăn. Chị đã lết từng bước trong hơi thở mệt nhọc của người chẳng còn sức , vừa đi chị vừa khóc, nước mắt rơi ràn rụa ướt hết tấm áo che cái bụng bự đang ngày một trướng lên, chị xin Chúa cho chị đem được rổ bắp luộc lên tới rẫy rồi chết cũng được.
Dốc núi với những bậc thang bằng đất xa tít tắp, cứ leo lên được một bậc thì chị ngồi xuống thở hổn hển và cầu nguyện, càng ngày chị càng mệt hơn, mấy trăm bậc thang với những người miền núi khỏe mạnh thì chỉ mất vài phút, còn với chị, chút ít hơi sức còn lại chị lết tới vài tiếng đồng hồ.
- Đường lên thiên đàng chắc cũng cao có vậy. Chị thầm thì chỉ đủ mình nghe.
Đang cuốc đất, đứa con gái nhìn lên, thảng thốt kêu ba nó:
- Ba ơi! Có phải mẹ đem đồ ăn lên không ba?
Anh vẫn cắm mặt xuống đất, cuốc từng lọn đất núi cứng cỏi, chẳng buồn ngước lên:
- Mày mê ngủ ban ngày hả Ka Im? Mẹ mày lên được tới đây chắc Chúa đỡ chứ bà ấy gần chết rồi, sao leo lên được tới núi nầy?
Chị đã lên tới đầu ngọn dốc, càng đi chị càng thấy nhẹ nhàng, bụng chị cứ xẹp lần lần như bóng bị xì hết hơi, chị cảm nhận hơi thở ngày càng mạnh và đều đặn của mình mặc dù càng lên cao đường càng dốc. Thấy chồng và con gái, từ xa chị đã gọi:
- Anh ơi!
Tiếng kêu mạnh mẽ, vang vọng nỗi mừng vui không thể diễn tả, bước chân chị đi gấp gáp như chạy về phía hai cha con. Hai con người dừng cuốc, sững sờ, há hốc miệng, anh lấy tay vả thật mạnh vào mặt mình nghe “bốp”, thấy rát buốt, không phải mơ rồi.

- A MA ơi! Chuyện gì vậy? Ka Mai ơi! Em hay là ma nhát anh vậy?
- Anh ơi! Chúa chữa lành cho em rồi, vừa mới đây thôi… Chị kiên nhẫn thuật lại tất cả cho anh nghe không thiếu điều nào, chị lấy tay anh và con đặt lên bụng mình như thể chứng minh điều mình vừa kể. Cái bụng lép kẹp, mềm mại, ấm áp. Nếu không tận tay rờ vào bụng chị thì anh sẽ chẳng bao giờ tin nổi điều lạ lùng chị vừa nhận được.
Những ngày sau đó đều là ngày vui, dân làng kinh ngạc và biết đến quyền năng lạ lùng về Chúa của chị, có rất nhiều người tin Chúa sau đó. Anh khuyên chị nên đi học tiếng phổ thông để dâng mình cho Chúa sử dụng. Cho đến hôm nay, sau hơn hai mươi năm được lành, chị đã dùng từng ngày để sống xứng đáng cho Chúa- Đấng chữa lành mọi bệnh tật, mọi vết thương lòng. Ngài đã nghe thấy lời cầu xin tha thiết của chị, một tấm lòng chẳng gợn chút chi dối trá.
Tôi nhìn chị với ánh mắt biết ơn, tự nhủ thầm rằng:
- Chúa ôi! Ngài nhìn thấu nỗi buồn, sự thất vọng của con và Ngài đem đến liều thuốc xoa dịu thật đặc biệt. Những điều con trải qua có thấm gì so với chị ấy.
Nghị lực và sức mạnh trong cái ôm và cái nắm tay thật chặt của chị đã giúp tôi đứng lên. Chúa đã dùng câu chuyện đời chị để đỡ nâng tôi.
Tôi không đặt áp lực cho bản thân mình nữa, hướng đến những điều hoàn hảo không có gì sai trái nhưng đôi lúc bạn hãy ngồi xuống, xem xét lại và hài lòng với những điều mình đang có. Hãy nghĩ đến những thứ trong cuộc sống mà bạn hàm ơn, tập trung vào những gì bạn có, quên đi những thứ không đáng nhớ nhưng hãy nhớ một điều: “bạn có quyền lựa chon, hoặc ủ ê, chán nản, hoặc có thể chọn lấy hạnh phúc đang có.
“Xét cho cùng mai là một ngày mới” nàng Scarlet trong tác phẩm “Cuốn theo chiều gió” đã nói thế. Sức mạnh kì diệu của ngôn từ có thể xốc vác bạn dậy, chữa lành tổn thương. Đôi lúc là đúng.
……
Giàng Su Ni là một cô bé người H’mông rất xinh, năm nay em được mười sáu tuổi với gương mặt trắng hồng, đôi mắt sáng và nụ cười đẹp như hoa mận rừng. Em là cháu gái của một truyền đạo tình nguyện người H’mông, em được học chữ và đọc Kinh Thánh bằng tiếng H’mông nên những suy nghĩ phía sau vầng trán xinh xinh kia cũng không giống các bạn cùng lứa tuổi. Em muốn được học cao hơn, được dâng mình làm một giáo sĩ đi đây đó khắp những vùng cao mà em chưa được đặt chân đến.
Vì ở tuổi cặp kê (người H’mông dựng vợ, gả chồng rất sớm) nên trong những phiên chợ vùng cao em được nhiều trai bản chú ý, nhiều chàng trai rắp tâm “cướp” em về làm vợ.
Thường là tháng giêng, khi rừng mơ nở trắng xóa núi đồi, báo hiệu mùa cưới lung linh sắc màu thổ cẩm rộn lên khắp các bản làng Tây Bắc thì tục Háy Pù (cướp vợ) của người H’mông lại diễn ra. Tục Háy Pù được xem là chế độ lược hôn, rất phổ biến nơi đây.
Những đêm trăng thanh gió mát, chàng trai miền núi vác thang tựa cửa nhà người yêu rồi thổi một điệu kèn môi tình tứ bằng chiếc lá, âm điệu du dương khiến lòng cô gái thổn thức, xốn xang. Nàng hé cửa sổ và chàng ghé thang vào, trèo qua và cõng nàng chạy vào rừng. Họ ở bên nhau ba ngày rồi trở về nhà bố mẹ vợ, xin phép cưới.
Ngày xưa tục này có sắc thái biểu cảm trữ tình là thế nhưng ngày nay đã biến tướng đi nhiều.
Giàng Su Ni biết rõ tục của bản mình nên hôm ấy đi học về, biết là trùng ngày với phiên chợ nên cô bé men theo bìa rừng về nhà, miệng cứ cầu nguyện không thôi, xin Chúa cho mình về được tới nhà an toàn. Miệng còn lẩm nhẩm thì từ trong rừng một tốp thanh niên cùng con ngựa xuất hiện, lù lù tiến tới gần. Tên Sùng Sá Lềnh, con một người giàu có trong bản đã ngấp nghé cô bé từ lâu, lợi dụng phiên chợ vì biết Su Ni sẽ đi học về mà không ai đón nên hắn đã rủ chúng bạn đi cướp vợ cho hắn.

Bọn thanh niên ào tới, ôm lấy Su Ni, lấy dây cột nó lại, bỏ lên ngựa. Nó cố sức vùng vẫy, tay quơ vào khoảng không, cứ nắm được những cành cây ven đường là nó bấu thật chặt nhưng sức nó sao bằng lũ trai kia. Chúng bỏ con bé lên ngựa như giắt một bao ngô, chở về nhà tên Sùng Sá Lềnh. Nhốt nó vào phòng và khóa cửa lại. Nếu như sau một ngày đêm mà không có ai giải cứu thì coi như nó đã thuộc về nhà họ Sùng. Tên trai trẻ mừng lắm, hắn cùng lũ bạn chén tạc chén thù ở gian nhà phía trước mặc cho con bé khóc lóc, kêu xin, đập cửa đến tay rướm máu.
Khi đau quá, cô bé nhìn xuống tay mình và phát hiện ra trong lúc quơ quào ngoài rừng, tay mình đã chụp trúng đám lá ngón, một ít vẫn còn nằm trong lòng bàn tay nắm chặt. Nó ngồi thừ xuống đất suy nghĩ;
- Chúa ơi! Xin hãy giữ gìn con trong cánh tay Cha, con xin phó sinh mạng con trong tay Cha.
Nói xong nó lấy một ít lá ngón bỏ vào miệng mình rồi nhai, không gào khóc nữa, trên tay nó vẫn còn cố tình cầm một ít.
Không nghe tiếng cô bé la hét một lúc lâu, người trong nhà liền mở cửa nhìn vào và thấy một cảnh tượng hãi hùng trước mắt. Con bé miệng sùi bọt mép, mắt trợn trừng chỉ còn tròng trắng, trên tay nó vẫn còn vương vãi một ít lá ngón. Người ta vực nó dậy, đổ thuốc vào miệng cho nó ói ra, họ tìm mọi cách cứu nó vì để người khác chết trong nhà sẽ bị xui tận mạng, họ sợ.

Su Ni từ từ mở mắt ra, nó mừng rỡ trong bụng chứ ngoài mặt thì đau đớn lắm. Nó cảm tạ Chúa đã bảo vệ nó, cho nó thấy điều nên làm trong lúc dường như bi kịch chẳng thể thay đổi. Nó đã nhai vừa đủ lá ngón để chỉ ngộ độc chứ không chết, nó còn cố ý để lại vật chứng cho người ta biết mà cấp cứu. Chúa cho nó những ý tưởng đó chứ hồi giờ đâu nghĩ đến.
Người ta đem con bé trả về nhà ba mẹ nó vì sợ xui. Ngồi trên lưng ngựa, nó nhìn bầu trời trong xanh, những cây mơ nở trắng đồi, gió mơn man kéo theo những cánh hoa rong chơi, uốn lượn dập dìu như cánh bướm trong tiết xuân dìu dặt. Cảnh vật quanh Su Ni vẫn thế nhưng nỗi mừng vui vì được Chúa Toàn Năng bảo vệ, lòng nó bình an, miệng nó ngâm nga một bài dân ca H’mông khi nghe văng vẳng xa xa một điệu kèn lá da diết:

“Anh ơi! Chim khuyên có gọi mùa, mùa mới về
Chim khuyên có gọi năm, năm mới tới
Tháng giêng là mùa ra sấm mới
Con chim khuyên khôn, hãy đến hót ở đỉnh đồi nhà em
Em ở đây, cách xa chín ngọn núi
Em ở đây, cách xa tầm chim bay
Anh có thương thì hãy làm cây kí zàng
Hãy cùng em đi qua mùa lấu chua
Anh có yêu, xin đừng cướp em về…”
Khoảng trời trong xanh, mênh mông với một chút nắng sót lại cuối ngày soi xuống cô bé. Su Ni ngước mắt lên mỉm cười:
- Chúa của con ơi! Ngài đang ở đấy và nhìn thấy con. Cái xấu không làm con nao sờn nhưng sẽ giúp con trải nghiệm Chúa cách sâu sắc và rõ ràng hơn. Mãi mãi là thế!
Cánh én nhỏ Naomihaiyendinh