ngày 17 tháng 05 năm 2016 - người đăng: admin

BÔNG HOA DÂNG MẸ

BÔNG HOA DÂNG MẸ. Bài giảng tĩnh tâm tháng 5.2016 tại Đan Viện Châu Sơn. của Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt nguyên Tổng giám mục.
I. ĐỨC MẸ LÀ BÔNG HOA
Trong tháng Hoa ta muốn dâng kính Đức Mẹ nhiều bông hoa nhưng thiết tưởng không có hoa nào sánh được với Đức Mẹ. Đức Mẹ chính là bông hoa hường mầu nhiệm. Bông hoa đẹp trổi vượt các loài hoa. Vẻ đẹp của Đức Mẹ khiến Đức Mẹ trở thành Mater amabilis. Đức Mẹ dễ thương dễ mến, dễ thương dễ mến trước mặt Thiên Chúa và Mẹ dễ thương dễ mến cả đối với con người.

Dễ thương dễ mến là một nhân đức. Nhân đức bao gồm nhiều vẻ đẹp. Ở nơi Đức Mẹ ta thấy có ít nhất 4 vẻ đẹp này:

1. Vẻ đẹp trinh trắng.

Vẻ đẹp trinh trắng không chỉ nói về sắc dục. Như Đức Mẹ khẳng định với sứ thần: “Tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Nhưng còn về tất cả đời sống. Tất cả vẻ đẹp của Đức Mẹ được gói gọn trong lời chào của Tổng lãnh Thiên thần Ga-bri-en: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28). Đầy ân sủng có nghĩa là không vướng chút bợn nhơ nào. Tâm hồn con người ví như chiếc bình chứa đựng ân sủng. Tội lỗi là những vật dơ bẩn, chướng ngại. Có tội lỗi cản trở, tâm hồn không thể có ân sủng. Tội nhẹ thì cũng không thể đầy ân sủng. Một tâm hồn đầy ân sủng có nghĩa là tâm hồn hoàn toàn trong sạch. Không có chút tội lỗi nhỏ nhặt nào.Ân sủng của Thiên Chúa đổ đầy vào tâm hồn Đức Mẹ. Tâm hồn Đức Mẹ lãnh nhận được đầy tràn ân sủng. Không mất mát hư hao chút nào. Nếu sự thánh thiện của Chúa được diễn ta qua phẩm phục trắng tinh: “Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc 9,3), thì tâm hồn Đức Mẹ cũng giống như một tấm vải trắng không tì vết. Một chiếc bình rỗng không. Có thể chứa được đầy tràn ân sủng. Hơn nữa Đức Mẹ còn có Chúa ở cùng. Không chỉ có ân sủng của Thiên Chúa, Đức Mẹ có chính Chúa là nguồn mạch mọi ân sủng, là trọn vẹn mọi ân sủng, là ân sủng trổi vượt - ân sủng tràn đầy - ân sủng phong phú. Không chỉ là nguồn suối ân sủng nhưng là cả một dòng sông ân sủng, là cả đại dương ân sủng và cả kho tàng ân sủng chứa trong tâm hồn Đức Mẹ.

Một điều khiến tâm hồn Đức Mẹ trổi vượt mọi tâm hồn thánh thiện nhất. Đó là Đức Mẹ không chỉ có Đức Chúa ở cùng theo bí tích hay theo nhiệm hiệp. Đức Mẹ có Đức Chúa cụ thể, sống động, bằng xương bằng thịt. Đó là Ngôi Lời nhập thể, là Thiên Chúa làm người. Đức Mẹ không chỉ là Đền Vàng cho Thiên Chúa ngự trị, không chỉ là lâu đài Đa-vít cho vị vua kế vị cai trị. Còn hơn thế Đức Mẹ nên một với Đức Chúa. Thiên Chúa tượng thai trong cung lòng Đức Mẹ. Máu thịt của Đức Mẹ trở thành máu thịt của Thiên Chúa nhập thể. Còn gì cao quí hơn. Đó là Mình Máu Chúa. Chứa đựng Thiên Chúa đã là cao quí lắm rồi nhưng còn hơn thế, Đức Mẹ trở thành chính Máu Thịt của Chúa. Phải là Máu Thịt vô cùng tinh tuyền trong sạch mới xứng đáng trở thành Máu Thịt của Con Thiên Chúa Chí Thánh. Mô-sê chỉ được diện kiến dung nhan Thiên Chúa thôi mà diện mạo của ông đã sáng láng rồi. Đức Mẹ được mang chính Thiên Chúa trong mình. Máu thịt của Chúa hoà lẫn với máu thịt của Đức Mẹ. Chắc chắn Đức Mẹ có một vẻ đẹp không bút nào tả nổi. Vẻ đẹp trinh trắng nguyên khôi. Vẻ đẹp rạng ngời thánh đức. Vẻ đẹp chiếu toả dung nhan Thiên Chúa. Nhưng thật lạ lùng, vẻ đẹp vô song ấy lại ẩn giấu trong vẻ đẹp khiêm nhường sâu xa.

2.Vẻ đẹp khiêm nhường

Đức Mẹ là một tấm gương khiêm nhường tuyệt đỉnh.

Khiêm nhường khi xưng mình là nữ tỳ của Chúa. Tổng lãnh Thiên thần báo tin lớn lao nói lên vai trò cao trọng của Đức Mẹ: “Thưa Bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh j một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,30-33). Theo lời sứ thần Đức Mẹ sẽ sinh ra vị quân vương thuộc dòng tộc Đa-vít. Như thế Đức Mẹ sẽ trở thành hoàng thái hậu. Thân Mẫu của vị quân vương được muôn dân trông đợi từ bao đời. Cao quí biết bao! Đáp lại những lời long trọng loan báo một địa vị cao quý, Đức Mẹ khiêm nhường thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38). Nữ tỳ là thân phận thấp hèn nhất thời ấy, là tầng lớp rốt cùng trong xã hội, thậm chí không được coi là người mà chỉ ngang hàng với súc vật do Chủ toàn quyền sử dụng thậm chí có thể giết chết mà không có tội gì. Nô lệ được buôn bán như một món hàng. Khi xưng mình là nữ tỳ, Đức Mẹ không nói một lời hoa mỹ nhưng là một sự thực: Đức Mẹ hoàn toàn từ bỏ bản thân, để Thiên Chúa toàn quyền sử dụng đời mình. Không chỉ xưng mình là nữ tỳ trước mặt vị Tổng lãnh Thiên thần, Đức Mẹ vẫn xưng mình là nữ tỳ trước mặt bà chị họ. Chính Bà Ê-li-sa-bét khi chứng kiến những sự lạ lùng diễn ra trong bản thân: đứa con trong bụng nhảy mừng khi nghe lời Đức Mẹ chào, đã xưng tụng Đức Mẹ: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này” (Lc 1,42-43). Lập tức Đức Mẹ trả lời bằng cất lên bài Magnificat tuyệt diệu ca tụng Thiên Chúa. Thiên Chúa đầy quyền năng làm nên những việc lạ lùng còn Đức Mẹ chỉ là người tôi tớ thấp hèn nhưng được Chúa đoái thương:

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa
thần trí tôi hớn hở vui mừng,
vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới.
Từ nay hết mọi đời,
sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,46-48).

Hiển nhiên Đức Mẹ coi đó là một sự thực. Nhận thức thân phận của mình là hư vô trước mặt Chúa. Tất cả đều bởi Chúa. Tất cả đều do tình thương của Chúa.

Không chỉ xưng mình là nữ tỳ, Đức Mẹ cư xử như một nữ tỳ thực sự. Không chỉ là nữ tỳ của Thiên Chúa, Đức Mẹ còn trở nên nữ tỳ của loài người. Đức Mẹ ở lại với bà Ê-li-sa-bét cho đến khi bà sinh con. Trong căn nhà neo đơn, bà Ê-li-sa-bét thai nghén, Đức Mẹ quán xuyến mọi việc trong nhà: Chợ búa, nấu nướng, quét dọn, giặt giũ, may vá… như một người tôi tớ. Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường, không chỉ hạ mình mà còn hạ mình thẳm sâu, đến tận cùng. Không chỉ phụng sự Thiên Chúa mà còn phục vụ cả con người. Không lạ gì Đức Mẹ được Thiên Chúa sủng ái đặc biệt. Đó chính là điều Đức Mẹ cảm nghiệm:

“Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
Dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư,
người giầu có , lại đuổi về tay trắng” (Lc 1 51-53)

Khi hiện diện tại tiệc cưới Ca-na, Đức Mẹ thật khiêm nhường. Có lẽ Đức Mẹ giúp phục vụ dưới bếp nên biết rõ tình hình thiếu rượu và khi giúp đỡ Đức Mẹ cũng thật kín đáo. Đức Mẹ khẩn cầu Chúa một cách kín đáo rồi nhắc nhở đám gia nhân. Nên nhớ chỉ với gia nhân chứ không phải với ông quản tiệc hay với cô dâu, chú rể. Và cũng rất kín đáo, chỉ tập trung vào Chúa Giê-su: “Người bảo gì các anh hãy làm theo” (Ga 2,5). Đó là sự khiêm nhường nhưng thể hiện sự quan tâm giúp đỡ.

3.Vẻ đẹp quan tâm giúp đỡ

Người đầy Thiên Chúa cũng có tấm lòng của Thiên Chúa, luôn quan tâm đến người khác, luôn muốn cho đi, luôn muốn quên mình. Đức Mẹ là như thế.

Khi vừa thụ thai Chúa Giê-su, nếu Đức Mẹ lo lắng chuẩn bị cho mình cũng là hợp lý. Vì Chúa Giê-su cũng cần chuẩn bị và Đức Mẹ cũng neo đơn. Nhưng được tin bà chị họ Ê-li-sa-bét đang có thai, lập tức Đức Mẹ lên đường. Không phải lên đường bình thường nhưng là “vội vã lên đường”. “Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét” (Lc 1, 39-40). Trong mầu nhiệm cứu độ thì Thiên Chúa vội vã đến gặp dân Người và chuẩn bị cho Gio-an Tẩy giả, người dọn đường. Nhưng về phương diện con người, Đức Mẹ quan tâm đến bà chị họ đang mang thai trong tuổi già lại neo đơn. Nếu chỉ vì gặp gỡ và để Chúa Cứu Thế tha tội cho thánh Gio-an, Đức Mẹ có thể trở về ngay nhưng vì quan tâm đến bà chị họ, nên Đức Mẹ ở lại hẳn ba tháng để phục vụ bà. Thật là một trợ giúp khiêm nhường, tế nhị và đúng lúc cần thiết.

Tại tiệc cưới Ca-na Đức Mẹ cũng biểu lộ sự quan tâm như thế. Chúa Giê-su đã nói rõ điều đó: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2,4). Quan tâm là coi việc của người khác cũng như việc của mình. Đặc biệt trong tình cảnh khốn khổ. Việc hết rượu chẳng can gì đến Đức Mẹ và Chúa Giê-su nhưng tấm lòng quan tâm và muốn giúp đỡ khiến Đức Mẹ bị liên luỵ. Và Đức Mẹ vào cuộc. Chúa Giê-su vì Đức Mẹ cũng phải thay đổi chương trình, để lòng mình “chạnh lòng thương” những người khốn khổ.

Sau khi Chúa Giê-su về trời Đức Mẹ vẫn quan tâm đến các tông đồ. Một sự quan tâm luôn ân cần, hiệu quả nhưng cũng luôn tế nhị, kín đáo. Chắc chắn trong những ngày tang tóc đầy bối rối Đức Mẹ luôn ở bên các tông đồ. Đức Mẹ đã an ủi vỗ về Phê-rô. Đức Mẹ qui tụ các ông, cầu nguyện cùng các ông, cùng hờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến. “Bấy giờ các ông từ núi gọi là núi Ô-liu trở về Giê-ru-sa-lem. Núi này ở gần Giê-ru-sa-lem, cách đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát. Trở về nhà, các ông lên lầu trên, là nơi các ông trú ngụ. Đó là các ông: Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê, Phi-líp-phê, Tô-ma, Bác-tô-lô-mê-ô, Mát-thêu, Gia-cô-bê con ông An-phê, Si-mon thuộc nhóm Quá Khích, và Giu-đa con ông Gia-cô-bê. Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su” (Cv 1,12-14). Chỉ sau khi Chúa Thánh Thần ngự đến, các tông đồ vững mạnh. Giáo hội thành hình. Đức Mẹ mới thực sự ẩn dật trong cô tịch với Thiên Chúa. Đó chính là vẻ đẹp trung tín.

4. Vẻ đẹp trung tín

Đức Mẹ đứng dưới chân thánh giá là biểu tượng của lòng trung tín.

“Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Khi thấy thân mẫu và môn đề mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19, 25-27). Đã nhận lãnh nhiệm vụ đón nhận Chúa Giê-su, Đức Mẹ trung tín với nhiệm vụ đó, có mặt từ khi Chúa Giê-su tượng thai cho đến khi Chúa Giê-su từ giã trần gian.

Đứng dưới chân thánh giá để tiếp tục cưu mang Chúa Giê-su trong cung lòng trinh trắng. Để tiếp tục bày tỏ tấm lòng khiêm nhường. Quả thật, lúc Chúa vinh quang không thấy Đức Mẹ đâu nhưng trong giờ phút đau khổ tủi nhục nhất, lại thấy Đức Mẹ có mặt: để xác nhận đây là con mình, cùng chịu đau khổ với con, cùng chịu nhục nhã với con, cùng chịu lưỡi đòng đâm thâu trái tim đau đớn vô cùng. Đứng dưới chân thánh giá để tiếp tục quan tâm giúp đỡ. Chẳng giúp được gì ngoài sự hiện diện nhưng là sự trung tín.

Và để một lần nữa Mẹ nói lên lời “Xin Vâng”. Xưa kia xin vâng ý Chúa Cha, nay xin vâng ý Chúa Con để tiếp tục lãnh nhận nhân loại và để tiếp tục yêu thương nhân loại. Trung tín với Chúa, Đức Mẹ cũng trung tín với loài người.

Quả thật từ xưa mỗi khi nhân loại lâm vào cảnh khốn cùng, Đức Mẹ lại hiện ra giúp đỡ, ủi an, vạch đường chỉ lối. Ta hãy xem ba trường hợp tiêu biểu.

Gua-đa-lúp-pê

Sau khi Krit-tốp Cô-lôm khám phá ra châu Mỹ, một làn sóng truyền giáo mạnh mẽ tràn sang miền đất mới. Tại Mê-hi-cô, các cha dòng Phan-xi-cô gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nền văn hoá Mai-a và Az-te-ca. Việc truyền giáo không mấy thành công. Ngày 9-12-1531, Đức Mẹ hiện ra với thổ dân Hoan Đi-e-gô. Sai ông đi trình với Đức Giám mục xây một nhà thờ kính Đức Mẹ trên đồi Te-pei-ac. Thoạt tiên Đức Giám mục không tin. Nhưng đã có những bằng chứng tỏ tường. Chú của Hoan Đi-e-gô được Đức Mẹ chữa lành cách lạ lùng. Và nhất là những bông hồng trái mùa hái được trên đỉnh đồi cao lại in thành hình Đức Mẹ trên chiếc khăn tin-ma của Hoan Đi-e-gô. Đức Giám mục tin tưởng và cấp tốc cho xây nhà thờ kính Đức Mẹ. Từ đó việc truyền giáo phát triển nhanh chóng. Có đến 80% dân số Mê-hi-cô tin Chúa. Và trung tâm Gua-đa-lúp-pê trở thành trung tâm Thánh Mẫu lớn trên thế giới. Đức Mẹ Gua-đa-lúp-pê quả là Đức Mẹ của việc truyền giáo.

BÀI VIẾT TỔNG HỢP