Ngày 2 tháng 7 năm 2016 - người đăng: admin.

BÀI THUỐC TỔNG HỢP

Bài 1: Ăn rau diếp cá giúp tóc bạc trở nên đen

Các hoạt chất trong rau diếp giúp thúc đẩy quá trình mọc tóc, biến tóc bạc thành đen; rễ, cành, lá rau có thể ăn sống, nấu chín hay chế biến thành đồ uống rất tốt cho sức khỏe.

Rau diếp cá

Các chuyên gia của Health Sina khuyên người bị bạc tóc nên thường xuyên ăn rau diếp cá sẽ giúp tóc mọc đen trở lại. Diếp cá còn gọi là dấp cá, ngư tinh thảo, rau vẹn, tập thái. Có vị tanh hôi, tính hơi lạnh.

Đông y dùng toàn bộ cây này để làm thuốc. Phân tích dược lý cho thấy diếp cá giàu chất dinh dưỡng với thành phần chính là carbohydrate, protein, chất béo và một số tiền chất nhất định của N-methyl xeton, axit lauryl. Dùng làm thuốc trị cảm cúm và phế cầu khuẩn, giải độc, thanh nhiệt, giảm đau, trị ho, trị đau dạ dày, dùng ngoài trị ghẻ, nấm eczema, bệnh trĩ tắc mạch… Đặc biệt rau có tác dụng thúc đẩy mọc tóc, giúp tóc bạc đen trẻ lại, đồng thời bồi bổ cơ thể.

Rễ cây diếp cá mềm và giòn, có vị tanh nhẹ, là bộ phận được ăn chủ yếu. Có thể ăn sống hoặc nấu chín. Cành, lá dùng để trộn salad, xào, ngâm muối hoặc chế biến đồ uống cùng với trà, rượu rất tốt cho sức khỏe.

Lưu ý khi ăn sống cần rửa sạch, bóp muối để thoát bớt nước. Để món salad ngon hơn có thể trộn với gừng, dầu mè, làm gỏi, thêm gia vị khác tùy theo sở thích. Diếp cá là giúp giữ hương vị thuần túy của món ăn và dậy mùi thơm độc đáo. Nếu muốn nấu chín có thể chế biến món diếp cá chiên trứng, canh diếp cá, diếp cá om thịt, diếp cá thịt heo chiên ớt…

**************
Rau muống và râu ngô

Bài 2: Chữa tiểu đường bằng bài thuốc rau muống và râu ngô

Tiến sĩ Võ Văn Chi với hàng chục năm nghiên cứu về cây thuốc cho biết rau muống có tên khoa học là Ipomoea aquatica Forssk. Cây thuộc họ khoai lang Convolvulaceae. Đây là cây thảo sống nhiều năm, bò lan trên mặt đất hay mặt nước. Thân hình trụ rỗng ruột, có rễ ở mắt. Lá màu lục, hình tam giác hay mũi tên. Hoa màu trắng hoặc tím nhạt, hình phiễu. Quả nang tròn 8-9 mm, chứa 4 hạt có lông màu hung.

Đông y thường dùng dây và lá rau muống làm thuốc, người ta chọn loại rau có màu tía, lấy các chồi và cọng. Cây có vị ngọt, nhạt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi niệu chỉ huyết. Loại rau này thường được dùng trị ngộ độc thức ăn, thuốc, tiểu tiện khó, tiểu ra máu, chảy máu cam, xuất huyết dạ dày, ho ra máu, trĩ xuất huyết.

Phân tích dược lý cho thấy rau muống chứa protein, béo, carbohydrat, các chất khoáng canxi, magie, sắt và các vitamin, provitamin A, vitamin C. Ngoài ra còn có nhiều lipid hơn hầu hết loại rau khác, trong đó có monogalactosyldiglycerid và digalactosyldiglycerid, sterol, các chất N-trans và N-cis feruloyltyramin.

Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu bài thuốc hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Dùng 60 g cọng rau muống, 30 g râu ngô, rửa sạch nấu nước uống. Lưu ý: Để đảm bảo vệ sinh an toàn, trước khi sử dụng nên rửa sạch từng ngọn rau muống rồi ngâm với nước muối loãng chừng 10-15 phút, sau đó vớt ra rửa lại, để cho ráo rồi dùng.

*****************

Bài 3: Bài thuốc chữa huyết áp cao từ cây nhàu
Cây nhàu

Bài thuốc chữa huyết áp cao từ cây nhàu

Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả Từ điển Cây thuốc Việt Nam cho biết nhàu gọi là nhàu lớn, nhàu núi hay nhàu rừng. Tên khoa học là Morinda citrifolia L. Cây thuộc họ cà phê Rubiaceae.

Nhàu mọc trong tự nhiên là loại cây nhỡ hay cây gỗ, hoàn toàn nhẵn. Lá hình bầu dục rộng, ít khi bầu dục thuôn, có góc ở gốc, có mũi nhọn ngắn, nhọn hoặc tù ở chóp, dài từ 12 đến 30 cm, rộng từ 6 đến 15 cm, bóng loáng, dạng màng. Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính từ 2 đến 4 cm. Quả nạc, gồm nhiều quả mọng nhỏ, màu vàng lục nhạt, bóng, dính với nhau. Hạt có phôi nhũ cứng.

Loài cây này mọc rải rác trong rừng thường xanh, gần mép nước. Nhàu cũng thường được trồng phổ biến ở Việt Nam và Ấn Độ, Myanmar, các nước nhiệt đới châu Á và Australia. Cây ra hoa gần như quanh năm.

Đông y dùng rễ, lá, quả và vỏ cây nhau để làm thuốc. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Rễ thường được sử dụng nhiều nhất bằng cách phơi hay sấy khô, còn các bộ phận khác dùng tươi. Rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng nhẹ và lâu dài, lợi tiểu nhẹ, làm êm dịu thần kinh trên thần kinh giao cảm, hạ huyết áp. Quả cũng có tính nhuận tràng và lợi tiểu. Lá có tác dụng tăng lực và hạ sốt, làm dịu và điều kinh.

Rễ được dùng chữa cao huyết áp, nhức mỏi tay chân và đau lưng, uốn ván. Dân thường dùng rễ để nhuộm đỏ vải, lụa. Lá nhàu chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt và nấu canh ăn cho bổ. Lá giã nát để dùng ngoài giúp làm lành vết thương, giúp vết loét nhanh chóng lên da non. Dịch lá được dùng đắp trị bệnh viêm khớp gây đau nhức. Vỏ nấu dành cho phụ nữ sau khi sinh uống bổ.

Quả nhàu chấm với muối ăn dễ tiêu hóa, ngoài ra còn dùng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới. Quả nướng chín ăn chữa kiết lỵ, ho hen, cảm, tốt cho người bị bệnh tiểu đường và phù thũng. Liều rễ cây từ 30 đến 40 g, lá từ 8 đến 10 g.

Phân tích thành phần dược lý cho thấy rễ nhàu chứa glucosid, anthraquinon gọi là morindin có tinh thể màu vàng cam tan trong nước sôi. Bên cạnh đó còn chữa hỗn hợp anthraglucosid như damnacantal, chất l-methoxy-rubiazin, morindon và l-oxy-2,3-

dimetoxyanthraquinon. Lá cũng chứa morindin. Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc hay từ cây nhàu như sau:

Huyết áp cao

Rễ nhàu từ 20 đến 40 g, sắc uống thay nước chè hằng ngày. Liệu trình trị 15 ngày, sau đó dùng bớt liều. Uống liên tục vài tháng thì huyết áp ổn định. Có thể ăn quả nhàu nướng và uống nước rễ nhàu. Đau lưng, nhức mỏi chân tay

Dùng rễ nhàu hay quả non thái miếng, ngâm rượu uống dần, ngày uống một chén con.

********************

Bài 4: Bài thuốc chữa sỏi thận, tiểu đường bằng chuối hột
Quả chuối hột

Để chữa sỏi thận, dùng từ 7 đến 8 quả chuối hột, thái mỏng, sao vàng hạ thổ, mỗi lần dùng, bốc khoảng một vốc tay để sắc lấy nước uống. Tiến sĩ Võ Văn Chi có nhiều năm nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam cho biết chuối hột còn gọi là chuối chát. Tên khoa học là Musa seminifera Lour, thuộc họ chuối Musaceae. Cây này thuộc loại thân giả, cao từ 2 đến 4 m, to, màu xanh lục. Lá có phiến to, xanh hơi mốc mốc, cuống và bẹ xanh. Buồng nằm ngang, cuống dài. Mo đỏ sẫm, không cuốn ngược lên. Nải chuối rộng, đầu bẹ nải tày. Quả có cạnh, đính thẳng góc với trục. Thịt quả chứa nhiều hạt hình cầu, đường kính từ 4 đến 5 mm.

*****************

Bài V: Chữa đau xương khớp nhờ ngải cứu

Cây ngải cứu

Trong tự nhiên, chuối hột mọc rải rác ven rừng, ven suối, ven sông, trảng cây bụi, thung lũng, khe núi, sườn đồi. Bên cạnh đó còn được nhân giống trồng phổ biến trong vườn, ven sông, rạch. Hầu hết các vùng miền ở nước ta đều có chuối hột. Đông y sử dụng cả quả, củ, thân, hạt chuối này để làm thuốc. Loài thực vật này có thể giải mọi thứ độc, lương huyết, thoái nhiệt, giải phiền khát, lợi tiểu, tiêu cơm, làm hết đau bụng và sát trùng. Hạt có vị đắng, cay, tính mát, có ít độc, có tác dụng phá ứ huyết, thông đại tiện. Ăn quả chín ăn để trị bệnh đường ruột. Quả chuối xanh cũng được dùng trị sỏi đường tiết niệu. Củ chuối hột thối dùng đắp trị bỏng lửa. Thân cây chữa tâm nhiệt phát cuồng, nói sảng. Nước từ thân cây có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường. Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc từ chuối hột như sau:

Đái tháo đường

Tìm cây chuối hột đang nhú bắp chuối độ 2 tấc, chặt ngang gốc để lại chừng 2 tấc, lấy dao khoét một lỗ bằng cái tô, để qua một đêm. Sáng hôm sau lấy một cái chén múc nước từ thân cây để uống. Áp dụng sau một tuần sẽ giảm bệnh.

Sỏi thận

Chuối hột dùng từ 7 đến 8 quả, thái mỏng, đem sao vàng hạ thổ. Mỗi lần lấy ra một vốc tay để sắc nước uống, một ngày từ 3 đến 4 chén, dùng vào lúc no. Cũng có thể hãm nước sôi như pha trà, ngày uống 3-4 lần.

Dạ dày

Thực hiện như bài thuốc trị sỏi thận ở trên, chỉ cần lưu ý là phải pha loãng rồi mới uống.

Chữa đau xương khớp nhờ ngải cứu Được sử dụng trong bữa cơm hàng ngày, ngải cứu còn là vị thuốc trị các bệnh về xương khớp hữu hiệu.

Ngải cứu là loại cây thân thảo, có vị hơi đắng, tính cay nóng. Ở các vùng quê, ngải cứu thường được trồng quanh nhà để làm rau ăn, còn mọc dại nhiều nơi. Thông thường, ngải cứu được sử dụng để điều kinh, an thai, chữa đau bụng, ngoài ra còn được biết đến nhiều với tác dụng chữa các bệnh về xương khớp.

Theo sách y học của Tuệ Tĩnh, lá ngải cứu có từ 0,2 đến 0,34% tinh dầu, tác dụng giảm đau. Ngải cứu còn chứa rất nhiều cineol, chất kháng khuẩn tự nhiên và thuyon, dehydro matricaria este, tetradecatrilin, tricosanol… giúp làm giảm các cơn đau thần kinh.

Theo lương y Bùi Hồng Minh, Chủ tịch Hội Đông y Ba Đình, để chữa đau nhức cột sống, hãy lấy một nắm lá ngải cứu rửa sạch, giã nát, sau đó trộn với một ít giấm và đun nóng. Bọc hỗn hợp này trong một chiếc khăn mỏng rồi xoa dọc vị trí đau trong khoảng 15 phút. Duy trì như vậy trong khoảng từ 2 đến 3 tuần, cơn đau sẽ hết. Để phát huy hiệu quả triệt để, nên duy trì khoảng 2 tháng.

Người đau thắt lưng chỉ cần rang muối với ngải cứu rồi gói vào một chiếc khăn mỏng, đắp lên lưng trước khi đi ngủ, cơn đau sẽ dịu dần. Để tránh bị bỏng, hãy lót một chiếc khăn mỏng lên lưng trước khi chườm hỗn hợp ngải cứu. Lưu ý: Hỗn hợp này nguội nên rang nóng lại rồi tiếp tục đắp. Hỗn hợp này cũng hiệu quả với người đang bị đau lưng do mang thai, nếu được thực hiện thường xuyên.

Không chỉ đắp ngoài da, ngải cứu còn được giã lấy nước cốt uống. Người bị đau nhức xương, lấy ngải cứu rửa sạch với nước muối pha loãng, giã nát rồi chắt lấy nước, thêm 2 thìa mật ong vào uống ngày 2 lần. Thực hiện như vậy liên tục trong 2 tuần, cơn đau nhức sẽ giảm hẳn.

Tuy nhiên, cần cẩn thận liều uống vừa đủ nước ngải cứu giã nát. Uống quá nhiều có thể làm cho niêm mạc da bị nóng rát, ửng đỏ, họng có cảm giác khô, rát, thậm chí đau bụng, buồn nôn, nôn… Nhiều nghiên cứu cho thấy tinh dầu ngải cứu ngoài tác dụng chữa bệnh còn có một ít độc tố. Ăn hoặc uống nhiều nước ngải cứu có thể dẫn tới hiện tượng chân tay run, giật, thậm chí viêm gan, vàng da, gan to… Do vậy không nên lạm dụng các phương pháp giảm đau bằng ăn hoặc uống nước ngải cứu.

***************



Công Dụng Bất Ngờ Ít Ai Biết Của Quả Bầu



Đặt 3 quả chanh cạnh giường ngủ điều kỳ diệu sẽ xảy ra



Bài thuốc hay chữa 'bách bệnh' lâu đời của người Đức





Sức Khỏe và Đời Sống

BÀI VIẾT TỔNG HỢP